Việt Nam – Hà Lan chung tay thúc đẩy thủy sản bền vững ĐBSCL

Hợp tác Việt Nam – Hà Lan mở thêm hướng đi cho nuôi trồng thủy sản bền vững, gắn công nghệ, chuỗi giá trị, giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu.

Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hà Lan được xây dựng trên nền tảng tin cậy và bền vững, với hơn 50 năm ngoại giao và hơn 400 năm giao thương. Trong hơn một thập kỷ qua, hai nước đã thúc đẩy hợp tác chiến lược thông qua các thỏa thuận về nông nghiệp bền vững, an ninh lương thực, quản lý nước và thích ứng biến đổi khí hậu.

Những nền tảng này không chỉ mang tính định hướng mà đã được cụ thể hóa bằng các chương trình hợp tác thực tiễn, đặc biệt tại ĐBSCL – vùng trọng điểm của ngành thủy sản Việt Nam. Là hai quốc gia cùng có đặc điểm đồng bằng châu thổ, Việt Nam và Hà Lan có chung mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị sinh thái, kinh tế của khu vực này.

ĐBSCL chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Ảnh: ĐSQ Hà Lan.
ĐBSCL chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Ảnh: ĐSQ Hà Lan.

Trong khuôn khổ Hội thảo khoa học, công nghệ lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư toàn quốc lần thứ nhất năm 2026, chiều 29/4, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Hội Thủy sản Việt Nam phối hợp Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam tổ chức hội thảo hợp tác Việt Nam – Hà Lan nhằm phát huy giá trị trong nuôi trồng thủy sản.

Nâng tầm chuỗi giá trị thủy sản bền vững

Bà Raïssa Anaïs Marteaux, Tổng Lãnh sự Vương quốc Hà Lan tại TP.HCM khẳng định, nuôi trồng thủy sản bền vững tại ĐBSCL là một trong những ưu tiên quan trọng trong hợp tác song phương Việt Nam – Hà Lan, nằm trong khuôn khổ Thỏa thuận Đối tác Chiến lược giữa hai nước.

Đây là minh chứng cho quan hệ hợp tác bền chặt, được vun đắp qua nhiều thập kỷ trên các lĩnh vực ngoại giao, thương mại, nông nghiệp bền vững, an ninh lương thực, quản lý tài nguyên nước và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo bà Raïssa Anaïs Marteaux, với thế mạnh về đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và các giải pháp thực tiễn, Hà Lan sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam trong xử lý những thách thức của ngành thủy sản tại ĐBSCL.

Tuy nhiên, theo bà Raïssa Anaïs Marteaux, để thúc đẩy hợp tác, chia sẻ tri thức và phát triển các giải pháp bền vững có thể nhân rộng trong toàn ngành thủy sản, cần một cách tiếp cận tổng thể, có sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học và người nuôi, thay vì chỉ dừng lại ở việc chuyển giao kỹ thuật đơn lẻ.

TS Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng nhấn mạnh, nuôi trồng thủy sản muốn đi xa không thể phát triển rời rạc từng khâu. Ngành cần nhìn toàn bộ chuỗi giá trị, từ con giống, thức ăn, vùng nuôi đến chế biến và thị trường.

Chỉ khi các mắt xích được kết nối chặt chẽ, những định hướng lớn mới có thể trở thành kết quả cụ thể. Trong tiến trình đó, hợp tác Việt Nam – Hà Lan được xem là mô hình có ý nghĩa, khi kết hợp được kinh nghiệm, công nghệ quốc tế với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Theo ThS Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản (Cục Thủy sản và Kiểm ngư), ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Sau nhiều năm tăng trưởng ổn định, Việt Nam nằm trong top 10 thế giới về sản lượng và top 3 về xuất khẩu.

Giai đoạn 2020 – 2025, diện tích nuôi giữ khoảng 1,3 triệu ha, sản lượng tăng từ 4,74 triệu tấn lên hơn 6,1 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu phục hồi trên 8 tỷ USD. Những con số này cho thấy ngành đang chuyển dần từ tăng trưởng theo sản lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả.

Tuy nhiên, thách thức vẫn còn lớn, đơn cử như sản xuất còn manh mún, hạ tầng thiếu đồng bộ, chi phí đầu vào cao; chất lượng con giống và kiểm soát dịch bệnh chưa ổn định. Trong khi đó, thị trường quốc tế ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và trách nhiệm xã hội.

Chương trình combi-track hướng tới phát triển thủy sản bền vững tại vùng ĐBSCL. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Chương trình combi-track hướng tới phát triển thủy sản bền vững tại vùng ĐBSCL. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Từ dự án thí điểm đến hệ sinh thái thủy sản xanh

Bà Ingrid Korving, Tham tán Nông nghiệp Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam cho rằng, để thủy sản Việt Nam phát triển bền vững, điều quan trọng không chỉ là tăng sản lượng, mà còn phải thích ứng tốt với biến đổi khí hậu và đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường châu Âu.

Từ năm 2022, chương trình phát triển thủy sản bền vững theo cách tiếp cận tích hợp (combi-track) được triển khai, tập trung vào hai đối tượng chủ lực là tôm và cá tra. Mục tiêu là chuyển hóa các định hướng chiến lược thành giải pháp cụ thể, có thể nhân rộng, đồng thời phù hợp với cam kết của Việt Nam về phát triển xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Điểm nổi bật của combi-track là huy động sự tham gia của cả khu vực công và tư, đặc biệt kết nối chặt chẽ các bên liên quan từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, người nuôi đến giới nghiên cứu, nhằm xây dựng các mô hình vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế, vừa giảm tác động môi trường.

Sáng kiến này hướng đến thúc đẩy các giải pháp thuận thiên, giảm sử dụng kháng sinh, kiểm soát dịch bệnh, đồng thời khuyến khích sự tham gia của thanh niên vào ngành. Qua đó, tạo nền tảng phát triển bền vững cho thủy sản, nâng cao giá trị cho người nuôi và doanh nghiệp.

Nhiều dự án hợp tác như ShrimpTech Vietnam 2.0, Tomgoxy Zero, AquaGene Vietnam, DeltaVax, DeltaCare Initiative, MACIB và Empower Youth4Food đang cho thấy hướng đi cụ thể của mô hình này. Điểm chung của các sáng kiến là đưa ra giải pháp thực tiễn, có thể nhân rộng, kết hợp giữa đổi mới công nghệ và các giải pháp dựa vào tự nhiên.

“Điều quan trọng trong giai đoạn tới là thúc đẩy một mô hình hợp tác đồng bộ, có khả năng mở rộng, để các giải pháp bền vững không chỉ dừng ở thí điểm mà có thể lan tỏa trong toàn ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam”, bà Ingrid Korving nhấn mạnh.

Trong đó, chương trình CombiTrack được khởi động từ năm 2022, tập trung vào hai ngành hàng chủ lực là tôm và cá tra tại ĐBSCL. Chương trình hướng tới phát triển xanh, giảm phát thải và mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Dự án ShrimpTech Vietnam giai đoạn 2024 – 2027 triển khai tại Vĩnh Long, Cà Mau, TP Cần Thơ và An Giang, hướng tới mô hình nuôi tôm phát thải ròng bằng 0. Dự án thử nghiệm các mô hình nuôi tôm phát thải thấp, ứng dụng IoT, năng lượng mặt trời, thức ăn thân thiện môi trường và hệ thống quản lý dữ liệu sản xuất. Kết quả kỳ vọng là hơn 210 hộ nuôi được đào tạo, trên 480 bên liên quan được tiếp cận thông tin, đồng thời hình thành các mô hình trình diễn để nhân rộng.

Dự án TomGoxy® Zero, kết hợp nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh mật độ cao với phục hồi rừng ngập mặn. Mô hình này giúp giảm khoảng 60% lượng nước sử dụng, giảm 75% năng lượng tiêu thụ và có thể nâng năng suất lên tới 300%. Đặc biệt, mô hình chứng minh rằng sản xuất thương mại và phục hồi môi trường có thể song hành.

Ở lĩnh vực giống, dự án AquaGene Vietnam ứng dụng di truyền học để cải thiện chất lượng tôm và nghêu, nâng khả năng sinh trưởng, tỷ lệ sống và sức kháng bệnh. Với cá tra, dự án DeltaVax tập trung đào tạo người nuôi, chuyển giao vaccine, chẩn đoán bệnh bằng qPCR, hệ thống nuôi tuần hoàn và các giải pháp xử lý nước.

Còn dự án DeltaCare đặt phúc lợi động vật vào trung tâm chuỗi sản xuất, từ khâu giống, nuôi thương phẩm đến vận chuyển và chế biến. Cách tiếp cận này hướng tới vật nuôi khỏe hơn, sản phẩm chất lượng hơn và đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính như EU, Anh.

Dự án MACIB Mekong hỗ trợ các hợp tác xã nuôi trồng thủy sản tại Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long nâng cao năng lực quản trị, tự chủ tài chính và thích ứng biến đổi khí hậu. Dự án dự kiến hỗ trợ trực tiếp 6 hợp tác xã, tiếp cận khoảng 1.500 hộ nuôi, huy động khoảng 260.000 euro cho các doanh nghiệp mới và góp phần tăng doanh thu khoảng 15%.

Ngoài ra, chiến dịch Empower Youth4Food, nhằm khơi dậy sự tham gia của thanh niên vào hệ thống lương thực bền vững. Khi nông nghiệp ngày càng cần nguồn nhân lực chất lượng cao, việc tạo cơ hội để người trẻ nhìn thấy tương lai trong ngành là yêu cầu rất thực tế.

Định hướng đến năm 2030, ngành thủy sản và kiểm ngư chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh, dựa vào hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ngành không chỉ đặt mục tiêu tăng sản lượng, mà hướng tới nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực cạnh tranh, bảo vệ tài nguyên môi trường và đảm bảo sinh kế cho người dân.

nongnghiepmoitruong.vn

Bình luận bài viết

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *