Tại ba tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, nơi nghề cá là sinh kế chính, nhóm hộ sống gần các vùng biển hạn chế khai thác có thu nhập tốt hơn nhờ được tiếp cận hỗ trợ tài chính, đào tạo kỹ năng và cơ hội chuyển đổi nghề.
Dọc theo chiều dài hơn 3.260 km bờ biển Việt Nam, nghề cá đã nuôi sống biết bao thế hệ gia đình. Sau mỗi chuyến quăng chài, mẻ cá mang về một phần giữ lại cho mâm cơm gia đình, phần còn lại được hoán đổi thành gạo rau, học phí cho con trẻ, hay tiền thuốc men lúc ốm đau.
Tính đến năm 2022, cả nước có khoảng 38.500 tàu cá quy mô nhỏ (tức những phương tiện có chiều dài dưới 12 mét hoạt động trong phạm vi 6 hải lý – tương đương khoảng 11 km – tính từ bờ), chiếm gần 45% tổng số tàu thuyền quốc gia.
Biển nuôi sống vạn chài bao đời bằng nguồn lộc tưởng chừng vô tận, nhưng rồi những mẻ lưới cũng đến ngày hao kiệt. Việc khai thác cá quá mức từ lâu đã vượt xa giới hạn tự phục hồi của tự nhiên, đẩy nguồn lợi thủy sản ven bờ vào tình trạng kiệt quệ. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng trữ lượng nguồn lợi thủy sản của Việt Nam đã giảm từ 5,07 triệu tấn trong giai đoạn 2011-2015 xuống còn 3,95 triệu tấn trong giai đoạn 2016-2019.
Tuy vậy không phải ngư hộ nào cũng “lao đao” giống nhau. Trong nghiên cứu mới, dựa trên dữ liệu khảo sát 302 ngư dân là trụ cột kiếm sống của gia đình và có gần 23 năm kinh nghiệm đi biển tại Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận từ tháng 6 – 10/2022, nhóm tác giả đã bóc tách cộng đồng ngư dân ven bờ thành hai nhóm hộ với những gam màu khác biệt.
Trong đó, nhóm “được bảo vệ” – chiếm 65% – có thu nhập bình quân đầu người 5,05 triệu đồng/tháng và nguồn cung thực phẩm ổn định. Số còn lại thuộc nhóm “dễ bị tổn thương”, vừa chật vật với mức thu nhập 3,58 triệu đồng/tháng, vừa đầu tắt mặt tối tìm cách vun vén làm sao để lo đủ ba bữa ăn tươm tất mỗi ngày.

Vì sao lại có sự phân hóa này? Nhóm nghiên cứu cho rằng lý do có thể nằm ở cách thức quản lý biển tại địa phương. Những hộ trong nhóm được bảo vệ có xu hướng sinh sống quanh các khu vực áp dụng nghiêm ngặt biện pháp giới hạn tiếp cận – điển hình là các khu bảo tồn biển (MPA) hoặc biển do địa phương/cộng đồng tham gia quản lý (LLMA).
Hiện Việt Nam đã thành lập 12 Khu Bảo tồn biển. Đây là các vùng biển được xác lập theo chính sách bảo vệ nguồn lợi và đa dạng sinh học. Trong khu bảo tồn, hoạt động khai thác được quản lý theo từng phân khu.
Vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng phục hồi sinh thái thường bị cấm hoặc hạn chế mạnh các hoạt động khai thác, nuôi trồng, xây dựng có thể gây hại đến hệ sinh thái.
Vùng dịch vụ – hành chính hoặc vùng đệm có thể cho phép một số hoạt động thủy sản, nhưng phải được kiểm soát theo quy chế của khu bảo tồn. Chẳng hạn, ngư dân vẫn có thể khai thác, nuôi trồng thủy sản, kinh doanh du lịch cộng đồng, tàu thuyền được phép neo đậu… Tuy nhiên, họ không được dùng giã cào, chất nổ, chất độc, xung điện, và chỉ được dùng các loại ngư cụ thân thiện với môi trường.
Theo nhóm tác giả, các khu bảo tồn có thể tạo nơi trú ngụ an toàn cho những loài bị khai thác quá mức, giúp quần thể phục hồi. Về lâu dài, sự phục hồi đó ảnh hưởng tích cực đến cân bằng sinh thái lẫn sinh kế của cộng đồng phụ thuộc vào đánh bắt.
Tương tự, với vùng biển do địa phương/cộng đồng quản lý, ngư dân và chính quyền địa phương cùng thiết lập các quy định – như đóng cửa biển theo mùa, cấm ngư cụ hủy diệt – dựa trên tập quán và kinh nghiệm cộng đồng.
Cùng với khu bảo tồn, vùng biển do địa phương/cộng đồng quản lý cũng góp phần bảo vệ các sinh cảnh quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn – vốn là nơi sinh sống của nhiều sinh vật biển.
Trong cả hai mô hình, ngư dân có thể được tiếp cận hỗ trợ tài chính, đào tạo kỹ năng và cơ hội sinh kế thay thế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, qua đó giảm phụ thuộc vào khai thác biển và tăng khả năng chống chịu của hộ gia đình khi nguồn lợi từ biển suy giảm.
Bảo tồn biển đi kèm hỗ trợ sinh kế
Từ đây, các nhà khoa học đề xuất các giải pháp để cải thiện tương lai nghề cá quy mô nhỏ tại Việt Nam.
Thứ nhất, quản lý nghề cá không nên chỉ tập trung vào việc kiểm soát sản lượng hay số lượng tàu, mà cần đặt mục tiêu lớn hơn là phục hồi hệ sinh thái biển và cải thiện đời sống của ngư dân.
Bảo tồn biển cần đi cùng hỗ trợ sinh kế thay thế, để ngư dân không buộc phải tiếp tục khai thác quá mức nguồn lợi đang suy giảm. Các hỗ trợ có thể gồm đào tạo nghề mới (nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp bền vững, du lịch sinh thái…), đồng thời cung cấp các khoản vay lãi suất thấp để hộ ngư dân nhỏ có điều kiện chuyển sang nguồn thu khác ngoài đánh bắt.
Thứ hai, cần xác định rõ quyền khai thác trên biển. Nhóm tác giả gợi ý mô hình giao quyền khai thác theo vùng, trong đó cộng đồng hoặc nhóm ngư dân được quản lý một khu vực biển cụ thể. Khi biết vùng biển đó gắn trực tiếp với sinh kế lâu dài của mình, ngư dân sẽ có động lực bảo vệ nguồn lợi thay vì khai thác tận diệt.
Thứ ba, chính quyền và cộng đồng ngư dân cùng bảo vệ nguồn lợi biển vẫn là một mô hình hiệu quả, mặc dù các khu vực đồng quản lý trong nghiên cứu chưa ghi nhận đem lại cho ngư dân lợi thế rõ rệt về thu nhập và an ninh lương thực so với các khu vực khác.
Không riêng những khu vực được nghiên cứu, các khảo sát trước đây cho thấy Việt Nam đã thí điểm hơn 40 nhóm đồng quản lý nghề cá, nhưng nhiều mô hình không duy trì được sau khi nguồn tài trợ bên ngoài kết thúc, do thiếu tuần tra và thiếu hỗ trợ sinh kế thay thế.
Để mô hình đạt hiệu quả thực chất, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh, người dân không nên chỉ được tham gia cho có, mà cần có quyền cùng bàn bạc, quyết định và chịu trách nhiệm trong quản lý ngư trường.
Nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí quốc tế World Development.
—
Nguồn tham khảo:
The dual role of small-scale fisheries on food security and poverty eradication in Vietnam: A latent profile analysis. World Development.
https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0305750X25003869
Anh Thư
tiasang.com.vn














