Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT sửa đổi các quy định trong lĩnh vực thủy sản đã làm rõ quy trình chứng nhận nguồn gốc, từng bước chuyển quản lý thủy sản sang môi trường điện tử.
Làm rõ quy trình xác nhận, chứng nhận sản phẩm xuất khẩu
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT sửa đổi, bổ sung một số quy định trong lĩnh vực thủy sản. Thông tư tập trung điều chỉnh nhiều nội dung tại Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT, nhất là các hoạt động ghi, nộp báo cáo, nhật ký khai thác thủy sản; xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác và chứng nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu.
Theo quy định mới, trường hợp hồ sơ là tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt (trừ tài liệu bằng tiếng Anh hoặc song ngữ có tiếng Anh). Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản dịch; bản dịch có đóng dấu giáp lai hoặc chữ ký nháy của tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ vào toàn bộ các trang. Quy định này làm rõ ngay từ khâu hồ sơ, trách nhiệm về thông tin cung cấp thuộc về chủ thể đề nghị xác nhận, chứng nhận. Đây là nội dung doanh nghiệp cần lưu ý khi chuẩn bị hồ sơ, đặc biệt với những bộ hồ sơ có tài liệu từ nước ngoài.

Đối với sản phẩm thủy sản xuất khẩu, Thông tư số 33 quy định rõ, các trung tâm chất lượng, chế biến và phát triển thị trường vùng thuộc Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường thực hiện xác nhận, chứng nhận đối với các sản phẩm đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc, không có nguồn gốc từ khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
Ngoài ra, Thông tư mới đã sửa đổi, bổ sung quy định về cấp và cấp lại Giấy xác nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Theo đó, hồ sơ đề nghị xác nhận hoặc chứng nhận phải có Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác do cơ quan có thẩm quyền của nước có tàu cá mang cờ cấp. Đồng thời, doanh nghiệp phải cung cấp giấy xác nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu thủy sản khai thác theo mẫu; hoặc giấy chứng nhận sản phẩm có nguồn gốc từ thủy sản khai thác nhập khẩu theo quy định của ICCAT theo Mẫu số 05; hoặc giấy tờ tương đương theo yêu cầu của cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu hoặc tổ chức nghề cá khu vực. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin cung cấp.
Về kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền sẽ đối chiếu thông tin về tàu khai thác, quốc gia tàu mang cờ, khối lượng và chủng loại thủy sản trong Giấy chứng nhận nguồn gốc. Với nguyên liệu nhập khẩu, việc đối chiếu tập trung vào khối lượng, chủng loại nguyên liệu sử dụng để chế biến xuất khẩu và thông tin về lô hàng nhập khẩu đã được kiểm tra về nguồn gốc xuất xứ khai thác. Với nguyên liệu khai thác trong nước, thông tin được đối chiếu với Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác do tổ chức quản lý cảng cá cấp hoặc Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác do cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh cấp. Ngoài ra, khối lượng và chủng loại nguyên liệu còn được đối chiếu với hồ sơ thống kê, hồ sơ giám sát sản xuất, chế biến, dữ liệu theo dõi trừ lùi, định mức sản phẩm tại cơ sở chế biến và mức độ đáp ứng về truy xuất nguồn gốc.
Như vậy, với doanh nghiệp chế biến, việc quản lý nguyên liệu không chỉ dừng ở chứng từ đầu vào mà cần bảo đảm sự thống nhất giữa nguyên liệu tiếp nhận, quá trình sử dụng và sản phẩm xuất khẩu. Đây là cơ sở để giải trình khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện đối chiếu.
Cũng theo quy định mới, trong 2 ngày làm việc sau khi kết thúc kiểm tra hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận hoặc chứng nhận đối với lô hàng đáp ứng quy định. Trường hợp có nghi ngờ và phải kiểm tra tại hiện trường, thời gian thực hiện tối đa 3 ngày làm việc. Nếu không xác nhận hoặc chứng nhận, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với giấy xác nhận hoặc chứng nhận bị mất, hư hỏng, cơ quan có thẩm quyền căn cứ hồ sơ lưu trữ để xem xét cấp bản sao từ sổ gốc theo quy định. Trường hợp không cấp phải có văn bản nêu rõ lý do.
Từng bước số hóa nhật ký và truy xuất thủy sản
Cùng với việc làm rõ quy trình chứng nhận, Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT đã quy định cụ thể lộ trình áp dụng các nhật ký liên quan đến nguồn gốc của thủy sản và hệ thống truy xuất nguồn gốc khai thác thủy sản điện tử.
Theo đó, nhật ký khai thác thủy sản điện tử, nhật ký thu mua, chuyển tải thủy sản điện tử được áp dụng kể từ ngày 1/6/2027 đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên và kể từ ngày 1/9/2027 đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 mét trở lên. Trong thời gian chuyển tiếp, tổ chức, cá nhân tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành. Cơ quan có thẩm quyền chấp nhận nhật ký giấy khi hệ thống điện tử bị hỏng, gặp sự cố kỹ thuật hoặc xảy ra trường hợp bất khả kháng theo quy định pháp luật.

Quy định này cho phép các chủ thể có thời gian chuẩn bị trước khi chuyển sang phương thức ghi nhật ký điện tử theo từng nhóm tàu. Đồng thời, cơ chế sử dụng nhật ký giấy trong trường hợp hệ thống gặp sự cố giúp duy trì hoạt động quản lý khi việc ghi nhận điện tử bị gián đoạn.
Đối với hệ thống truy xuất nguồn gốc khai thác thủy sản điện tử, Thông tư đưa ra ba mốc quan trọng. Cụ thể, hoạt động tàu cá rời cảng, cập cảng và cấp Giấy biên nhận sản phẩm thủy sản khai thác bốc dỡ áp dụng từ ngày 1/3/2026. Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác áp dụng từ ngày 1/9/2026. Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác áp dụng từ ngày 1/1/2027. Cơ quan có thẩm quyền chỉ cấp bản giấy trong trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật dân sự hoặc theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân.
Việc triển khai theo từng mốc gắn với từng loại dữ liệu cho thấy quá trình chuyển đổi được thực hiện từ các khâu phát sinh thông tin đến các bước xác nhận, chứng nhận. Dữ liệu về tàu cá và sản phẩm bốc dỡ tại cảng sẽ là một trong những cơ sở cho việc xác nhận nguyên liệu và chứng nhận nguồn gốc ở các bước tiếp theo. Điều này đặt ra yêu cầu rõ hơn đối với từng chủ thể trong chuỗi. Tàu cá và cảng cá cần bảo đảm thông tin được ghi nhận đầy đủ, chính xác. Doanh nghiệp chế biến cần quản lý thống nhất dữ liệu về lô nguyên liệu, khối lượng, chủng loại và quá trình sử dụng. Cơ quan quản lý cần bảo đảm dữ liệu được tiếp nhận, xử lý và khai thác đúng quy định.
Có thể nhận thấy, từ yêu cầu về hồ sơ, quy trình đối chiếu nguồn nguyên liệu đến lộ trình áp dụng nhật ký và truy xuất điện tử, Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT đang từng bước hoàn thiện phương thức quản lý nguồn gốc thủy sản theo hướng dữ liệu được ghi nhận và kiểm chứng xuyên suốt chuỗi.
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn














