Đến hết tháng 5/2026, hơn 83% tàu cá thuộc diện bắt buộc tại Quảng Ninh đã được hướng dẫn khai báo trên hệ thống eCDT, vượt chỉ tiêu tỉnh giao. Tuy nhiên, sản lượng thủy sản khai báo mới đạt khoảng 22,8% tiến độ, cho thấy việc kiểm soát thực tế khâu bốc dỡ vẫn là điểm cần tập trung tháo gỡ trong thực hiện chống khai thác IUU.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) là phần mềm số hóa quy trình quản lý nghề cá, xuất/nhập bến của tàu cá, vận hành theo cơ chế số hóa toàn bộ quy trình ghi chép, kiểm tra và quản lý thông tin từ tàu cá xuất bến, đánh bắt trên biển, cập cảng bốc dỡ sản phẩm cho đến nhà máy chế biến. Hệ thống này trước đó đã được Quảng Ninh đưa vào vận hành thí điểm tại nhiều địa phương. Kể từ ngày 1/3/2026, để đồng bộ các giải pháp chống khai thác IUU, Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) được áp dụng trên toàn quốc để quản lý tàu cá ra, vào cảng và cấp giấy biên nhận sản phẩm thủy sản bốc dỡ.

Ngay sau khi có chỉ đạo của tỉnh, các đơn vị chuyên môn, các địa phương có biển và có quản lý tàu cá đã triển khai loạt giải pháp thực hiện Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT). Kết quả đến hết ngày 31/5/2026, các đơn vị, địa phương đã hướng dẫn ngư dân thực hiện khai báo eCDT đối với 3.441 tàu cá, đạt khoảng 83,2 % số tàu cá của tỉnh, vượt kế hoạch tỉnh giao, tuy nhiên về chỉ tiêu về sản lượng khai báo qua eCDT mới đạt 7.756 tấn, đạt 22,85%, chưa đáp ứng theo yêu cầu của tỉnh đề ra.
Con số thống kê cụ thể: Cảng Cái Rồng đã kiểm tra 1.521 lượt tàu cập, rời cảng, sản lượng khai thác đạt 2.296 tấn, chiếm 29,4%. Điểm kiểm soát cửa sông Cái Mắt đã kiểm tra 1.104 lượt tàu cập, rời cảng, sản lượng thủy sản bốc dỡ đạt 1.256 tấn, chiếm 16,1%. Khu neo đậu Cô Tô đã kiểm tra 971 lượt tàu cập, rời cảng, sản lượng thủy sản bốc dỡ đạt 1.297 tấn, chiếm 16,6%. Khu neo đậu Tiến Tới kiểm soát 1.027 lượt tàu cập, rời, sản lượng thủy sản bốc dỡ đạt 685 tấn, chiếm 8,8% tổng sản lượng thủy sản khai thác bốc dỡ khai báo trên hệ thống điện tử eCDT. Một số điểm kiểm soát đã tổ chức kiểm soát tốt nhưng kết quả chưa cao như Hòn Gai/Cao Xanh đã khai báo 1.852 lượt tàu cập rời cảng, sản lượng bốc dỡ đạt 248 tấn, chiếm 3,2%; điểm kiểm soát khu neo đậu Phú Hải ghi nhận sản lượng khai thác thủy sản khai báo đạt 45 tấn, chiếm 0,6%.

Các địa phương có sản lượng khai thác khai báo cơ bản đạt và vượt kế hoạch gồm phường Cửa Ông, Móng Cái 1, Cao Xanh, Đông Triều. Phường Hồng Gai, xã Tiên Yên, Đầm Hà, đặc khu Vân Đồn, Cô Tô thuộc nhóm các địa phương có sản lượng khai thác đạt khoảng gần và trên 50% kế hoạch. Những địa phương đạt tỷ lệ thấp gồm Yên Tử, Móng Cái 2, Cẩm Phả, Đường Hoa và Quảng Hà. Các đơn vị còn lại là Hà An, Uông Bí, Quang Hanh, Bãi Cháy, Hà Tu, Việt Hưng, Hiệp Hòa, Phong Cốc, Liên Hòa, Quảng Yên, Tuần Châu, Hạ Long, Đông Mai; xã Hải Ninh, Hải Lạng, Vĩnh Thực, Hải Hòa có sản lượng khai thác đạt tỷ lệ rất thấp so với kế hoạch (dưới 30%). Riêng Hà Lầm, Mông Dương, Móng Cái 3, xã Đông Ngũ, Thống Nhất chưa có sản lượng khai báo trên hệ thống điện tử eCDT.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường, sau 7 tháng năm 2026, việc triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) trên địa bàn tỉnh đạt kết quả tích cực, cao hơn rõ rệt so với cùng kỳ năm 2025. Số tàu cá tham gia khai báo qua hệ thống đạt 3.451 tàu, bằng 179% cùng kỳ; sản lượng khai báo điện tử đạt 7.800 tấn, bằng 128,5%. Tỷ lệ tàu tham gia hệ thống đạt 83,45% tổng số tàu. Đáng chú ý, số lượt yêu cầu cập, rời cảng được thực hiện trên hệ thống tăng gần 13 lần, đạt 9.237 lượt, so với 712 lượt cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ đồng bộ trong phê duyệt yêu cầu cập, rời cảng giữa lực lượng Biên phòng và các điểm kiểm soát cũng được cải thiện, trong đó tại cảng Cái Rồng, khu neo đậu Cô Tô và điểm kiểm soát Mũi Ngọc đạt gần 100%.
Tuy nhiên, kết quả triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử 7 tháng năm 2026 so với giao chỉ tiêu về việc quản lý tàu cá ra, vào cảng và cấp giấy biên nhận sản phẩm thủy sản bốc dỡ bằng hệ thống eCDT tại Văn bản số 1379/UBND-NLN1 của UBND tỉnh thì vẫn chưa đạt yêu cầu. Nguyên nhân của việc này được cho là do ý thức, nhận thức và trình độ thao tác phần mềm của ngư dân chưa cao, đồng thời chi phí thiết bị, phần mềm cài đặt và cước thuê bao hàng tháng để ghi nhật ký làm tăng chi phí chuyến biển cho ngư dân. Cùng với đó, Quảng Ninh gồm nhiều vụng vịnh kín, đã hình thành nhiều điểm chuyển tải, bốc dỡ thủy sản khai thác tự phát, việc phê duyệt yêu cầu cập cảng giữa một số đơn vị chức năng chưa đồng bộ.

Trước yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, ông Nguyễn Như Hạnh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Sở cùng các đơn vị chuyên môn, địa phương đang triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm nâng cao hiệu quả Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT). Mục tiêu từ nay đến hết năm 2026 là đưa tỷ lệ tàu cá thuộc diện bắt buộc thực hiện khai báo trên hệ thống eCDT đạt từ 90% trở lên; đồng thời bảo đảm 100% tàu cá ra, vào cảng được kiểm soát, cập nhật và kê khai sản lượng khai thác trên hệ thống.
Việt Hoa
Nguồn: baoquangninh.vn














