Tăng cường quản lý cơ sở kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao, siết chặt từ khâu sản xuất đến lưu thông, xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính… là những định hướng sửa Luật An toàn thực phẩm.
>>>Bài 1. Bẫy trên mâm cơm và những lỗ hổng chính sách
>>>Bài 2. Kiểm tra đột xuất, lộ diện nhiều “vùng xám” trong quản lý an toàn thực phẩm
Những định hướng sửa đổi này được đưa ra trong bối cảnh các vụ việc mất an toàn vệ sinh thực phẩm xảy ra liên tiếp suốt thời gian dài, trong đó có những vụ đặc biệt nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Ngay từ đầu năm, Chính phủ đã ban hành nghị quyết về việc đề nghị bổ sung dự án Luật an toàn thực phẩm (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội. Dự án luật này dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2, diễn ra vào tháng 10 tới.

Từ phía cơ quan chủ trì soạn thảo luật, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) lần này có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh giải quyết những vấn đề thực tiễn mà luật hiện hành chưa có quy định hoặc có quy định nhưng quy định đó không còn phù hợp.
Theo đó, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) sẽ hoàn thiện khung pháp lý toàn diện thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tăng cường phân cấp, phân quyền cho các địa phương cũng như tránh chồng chéo chức năng nhiệm vụ của các Bộ, ngành Trung ương.

Đặc biệt, theo ông Tuyên, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) lần này sẽ chuyển đổi tư duy quản lý từ xử lý vi phạm sang phòng ngừa chủ động, ngăn chặn ngay từ đầu theo nguy cơ; bắt buộc các cơ sở áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến cho sản phẩm nguy cơ cao; kiểm soát lô hàng nhập khẩu và sản phẩm chế biến sẵn dựa trên nguy cơ và lịch sử doanh nghiệp.
Trao đổi với phóng viên Dân trí sau những chuyến khảo sát thực tế phục vụ việc thẩm tra sửa đổi luật này, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết Đoàn công tác đã đi thực tế tại 3 địa phương, mỗi nơi chia thành 5 tổ công tác để khảo sát, kiểm tra ngẫu nhiên ở nhiều điểm nóng.
“Qua kiểm tra cho thấy có rất nhiều dấu hiệu vi phạm đáng lo ngại, nhiều lỗ hổng trong kiểm soát thực phẩm đầu vào cũng như truy xuất nguồn gốc thực phẩm, điều mà hầu hết tất cả đơn vị đều bỏ ngỏ”, bà Hải nói.

Cùng với đó, hộ kinh doanh nhỏ lẻ theo quy định không cần cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm mà chỉ cần ký giấy cam kết. Nhưng thức ăn đường phố, bếp ăn trường học, hầu hết lại lấy từ các cơ sở kinh doanh này, nên việc đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm chủ yếu dựa trên niềm tin và trách nhiệm. Điều này, theo bà Hải, thực sự rất đáng lo ngại.
Đặc biệt, bà chỉ ra bất cập khi chúng ta thắt chặt tiền kiểm nhưng buông lỏng hậu kiểm. Trách nhiệm quản lý cũng bị cắt khúc khi 3 ngành cùng quản lý một mâm cơm, mỗi khâu một bộ chịu trách nhiệm nhưng trách nhiệm chung cho cả chuỗi lại không rõ thuộc về bên nào. Tới đây khi sửa Luật An toàn thực phẩm, bà Hải cho rằng cần sửa đổi ngay nội dung này.
Từ góc độ người đứng đầu cơ quan thẩm tra, bà Hải nhấn mạnh Luật An toàn thực phẩm sửa đổi cần tập trung vào giải quyết chồng chéo trong quản lý Nhà nước, dứt khoát cần một cơ quan chịu trách nhiệm chính trong vấn đề này.

Cùng với đó, phải làm rõ từng chủ thể trong từng khâu; chú trọng hậu kiểm, tăng cường kiểm tra đột xuất và xử phạt đủ tính răn đe.
Đặc biệt, bà đề nghị ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số mạnh mẽ trong quản lý an toàn thực phẩm, nâng cao tính giám sát phục vụ tăng cường truy xuất nguồn gốc thực phẩm…

Là thành viên tích cực của Tổ công tác số 1 trong các chuyến khảo sát thực tế về an toàn thực phẩm ở 3 địa phương, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Ngọc Sơn cũng đưa ra nhiều góp ý thiết thực cho việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm lần này.
Theo ông, Luật cần tập trung vào 6 nhóm quy định cốt lõi.
Một là sửa triệt để tư duy quản lý, từ quản lý theo khâu sang quản lý theo chuỗi. Đây là điểm cốt lõi nhất, theo lời ông Sơn.
Thực tế khảo sát ở cả Hà Nội, Bắc Ninh, Lạng Sơn đều cho thấy thực phẩm đi qua rất nhiều mắt xích, từ sản xuất ban đầu, giết mổ, vận chuyển, chợ, siêu thị, bếp ăn, tiêu dùng…, nhưng quản lý hiện vẫn chia theo từng ngành, từng cơ sở, từng giấy phép.
Theo ông Sơn, khi làm việc với các địa phương, Bắc Ninh nói rất rõ quy định hiện hành chủ yếu quản lý “theo từng cơ sở, từng giấy phép, từng khâu riêng lẻ”, trong khi bếp ăn tập thể thực chất là một chuỗi liên thông.
Hà Nội cũng nêu nguồn cung thực phẩm chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu, phần còn lại phụ thuộc tỉnh khác và nhập khẩu, nên chuỗi kéo dài qua nhiều trung gian. Lạng Sơn thì bộc lộ rõ sự đứt gãy ở khâu giết mổ nhỏ lẻ, chợ, cửa khẩu…
Ông đề xuất Luật An toàn thực phẩm sửa đổi phải quy định rõ quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi cung ứng, trong đó mỗi chuỗi phải xác định được chủ thể tham gia; trách nhiệm ở từng mắt xích; cơ chế truy xuất và thu hồi, cũng như cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm khi xảy ra sự cố.
Hai là luật hóa rõ “một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng” về an toàn thực phẩm ở địa phương. Ông Sơn nhìn nhận đây là yêu cầu có tính đột phá về thể chế.

Vị đại biểu cho rằng các báo cáo đều phản ánh mô hình hiện nay còn phân tán, nhiều đầu mối, nhân lực mỏng, phối hợp chưa thật hiệu quả. Lạng Sơn kiến nghị rất rõ phải kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng một đầu mối thống nhất. Bắc Ninh cũng thừa nhận mô hình quản lý sau sáp nhập còn chưa thống nhất.
Ông Sơn đề xuất lần sửa luật này phải quy định rõ một cơ quan đầu mối về an toàn thực phẩm ở địa phương, không thể tiếp tục để tình trạng “3 ngành quản lý 1 mâm cơm” nhưng khi có sự cố lại khó quy trách nhiệm.
Theo ông Sơn, chủ tịch UBND cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm chung, nhưng dưới đó phải có một đầu mối chuyên môn thống nhất, không để cắt khúc giữa y tế, nông nghiệp, công thương như hiện nay.
Thứ ba, cần siết chặt quản lý nguyên liệu đầu vào và truy xuất nguồn gốc thực phẩm, theo đề xuất của đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn.
Việc thực phẩm vào trường học, bệnh viện, bếp ăn tập thể “đủ giấy tờ” nhưng vẫn không an toàn, theo ông, là điều khiến người dân lo lắng, mất niềm tin nhiều nhất.
Thực tế kiểm tra cho thấy các địa phương đều thừa nhận truy xuất nguồn gốc điện tử, liên thông dữ liệu, khả năng truy vết nhanh còn hạn chế. Bắc Ninh nói rõ việc lưu hồ sơ đầu vào có làm nhưng hệ thống truy xuất điện tử và liên thông dữ liệu giữa các khâu còn yếu. Hà Nội cũng cho biết việc kiểm soát tại chợ còn hạn chế do chưa kiểm soát được thực phẩm từ các tỉnh vào; kiểm tra ở siêu thị còn chủ yếu dựa trên hồ sơ, giấy tờ.
Từ thực tế đó, đại biểu Sơn đề xuất trong luật có quy định bắt buộc quản lý theo lô hàng đối với thực phẩm nguy cơ cao.
Lần sửa này cũng cần luật hóa nghĩa vụ lưu trữ và chia sẻ dữ liệu truy xuất của cơ sở sản xuất, giết mổ, vận chuyển, chợ đầu mối, bếp ăn tập thể, nhà hàng, siêu thị…
Bên cạnh đó, cần có quy định bắt buộc số hóa truy xuất đối với một số chuỗi có nguy cơ cao: thịt, thủy sản, rau ăn lá, thực phẩm đưa vào trường học, bệnh viện, khu công nghiệp.
“Khi có sự cố, phải truy ngay được lô hàng nào, ai giao, ai nhận, ai kiểm tra, ai quyết định sử dụng?”, ông Sơn nói.

Nội dung thứ tư cần sửa, đó là tập trung mạnh vào cơ chế hậu kiểm bởi đây đang là “lỗ hổng thể chế” rất lớn.
Khi làm việc với đoàn khảo sát, lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh thừa nhận cơ chế tự công bố hiện nay khiến nhiều cơ sở tự công bố ồ ạt, đưa sản phẩm ra thị trường ngay. Đến khi hậu kiểm thì không còn mẫu, không còn sản xuất nên rất khó xử lý.
Với nhóm không thuộc diện cấp giấy, nhiều nơi quản lý chủ yếu bằng cam kết an toàn thực phẩm nhưng cam kết lại không có giá trị kiểm soát thực chất nếu không gắn với giám sát thường xuyên.
Vì vậy, theo đại biểu Sơn, với sản phẩm tự công bố, phải tăng yêu cầu về hồ sơ kỹ thuật tối thiểu; trách nhiệm lưu mẫu; nghĩa vụ sẵn sàng cung cấp mẫu hậu kiểm. Đặc biệt, đi kèm cần có chế tài rất nặng nếu tự công bố sai.
Với cam kết an toàn thực phẩm, ông Sơn cho rằng không thể coi đó là công cụ quản lý thay thế cho kiểm tra. Theo đại biểu, Luật cần quy định “cam kết chỉ là một bước quản lý ban đầu”, phải có kiểm tra thực hiện cam kết, nếu vi phạm thì đình chỉ, không chỉ nhắc nhở.
Công tác hậu kiểm, ông Sơn nhấn mạnh cần chuyển từ hậu kiểm dàn trải sang hậu kiểm theo rủi ro.

Nội dung cần sửa đổi thứ năm là đưa bếp ăn tập thể, thức ăn đường phố, giết mổ nhỏ lẻ thành nhóm quản lý trọng điểm trong Luật An toàn thực phẩm, bởi đây là 3 khu vực rủi ro cao nhất đang nổi lên trong thực tế.
Theo số liệu của những nơi đoàn khảo sát kiểm tra, Hà Nội có 5.346 bếp ăn tập thể và 8.278 cơ sở thức ăn đường phố. Bắc Ninh có hơn 650 bếp ăn tập thể trong khu công nghiệp, 1.117 bếp ăn trường học, 2.451 cơ sở thức ăn đường phố và 1.956 cơ sở giết mổ, gần như toàn bộ là nhỏ lẻ.
Lạng Sơn cũng có 445 bếp ăn tập thể, 1.335 cơ sở thức ăn đường phố và 912 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, chưa có cơ sở giết mổ tập trung.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề xuất với bếp ăn tập thể, Luật phải quy định rõ trách nhiệm của nhà cung cấp nguyên liệu, đơn vị vận hành bếp, đơn vị sử dụng suất ăn, người đứng đầu trường học, bệnh viện, doanh nghiệp.
Với thức ăn đường phố, ông Sơn nhấn mạnh không thể chỉ quản bằng tuyên truyền, vận động mà cần một chương riêng hoặc nhóm quy định riêng về địa điểm kinh doanh, điều kiện tối thiểu, đăng ký nhận diện, hậu kiểm linh hoạt, chế tài đủ mạnh.
Với giết mổ nhỏ lẻ, Luật cần quy định lộ trình rõ để giảm giết mổ nhỏ lẻ, tăng giết mổ tập trung. Những cơ sở còn tồn tại phải quản lý chặt về nguồn gốc vật nuôi, kiểm soát thú y, điều kiện vệ sinh, nhật ký giết mổ, truy xuất đầu ra…
Nội dung thứ sáu, ông Sơn đề xuất tăng mạnh chế tài và trách nhiệm cá nhân trong quản lý an toàn thực phẩm.
“Người dân chỉ lấy lại niềm tin khi thấy vi phạm bị xử lý nghiêm, xử lý nhanh và xử lý đúng người chịu trách nhiệm. Hiện nay vấn đề lớn không chỉ là có vi phạm, mà là phát hiện chậm, khó truy trách nhiệm, chế tài chưa đủ răn đe, xử lý chủ yếu dừng ở cơ sở, chưa chạm đến người đứng đầu hoặc chuỗi cung ứng phía sau”, ông Sơn nêu thực tế.

Vị đại biểu đồng thời đề xuất Luật bổ sung trách nhiệm pháp lý rõ hơn với người đứng đầu cơ sở, đơn vị tổ chức bếp ăn, nhà cung cấp nguyên liệu, đơn vị vận chuyển, ban quản lý chợ đầu mối.
Quy định trong luật sửa đổi cũng cần tăng chế tài với các hành vi như: hợp thức hóa hồ sơ; không lưu hồ sơ truy xuất; không hợp tác thu hồi; dùng sai mục đích hóa chất, phụ gia; cung cấp thực phẩm vào trường học, bệnh viện mà không bảo đảm an toàn thực phẩm… Đặc biệt, theo ông Sơn, luật cần quy định đình chỉ ngay đối với nhóm vi phạm nguy cơ cao.
Hàng loạt bất cập và lỗ hổng trong quản lý an toàn thực phẩm được chỉ ra cho thấy xây dựng luật đã khó, nhưng để luật thực sự trở thành “lá chắn” bảo vệ sức khỏe nhân dân lại càng khó hơn.
Hoạt động kiểm tra, khảo sát các địa phương của cơ quan chủ trì thẩm tra luật không chỉ đơn thuần là những chuyến đi thực tế, mà chính là quá trình “đưa hơi thở cuộc sống vào nghị trường”. Những lỗ hổng trong quản lý, những rào cản từ thực tiễn mà đoàn khảo sát ghi nhận được sẽ là dữ liệu, là “bộ lọc” quan trọng nhất để thẩm tra dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi với kỳ vọng vào một khung pháp lý mới chặt chẽ hơn, thực chất hơn và đủ sức răn đe hơn.
dantri.com.vn















