ĐBSCL – Đội tàu khai thác lớn, nhu cầu nhân lực cao nhưng nghề biển ngày càng khó giữ chân lao động trước áp lực chi phí, rủi ro và sự dịch chuyển việc làm.
Thiếu người trầm trọng
Buổi sáng ở Cảng cá Tắc Cậu, một trong những cảng cá chỉ định lớn nhất tỉnh An Giang trôi qua chậm hơn thường lệ. Ngoài cửa sông Cái Bé, mặt nước rộng nhưng vắng bóng tàu khai thác trở về. Dọc cầu cảng chỉ vài chiếc tàu tải nằm neo dây im lìm. Khu bốc dỡ hải sản vốn từng ồn ào tiếng máy, tiếng gọi nhau chuyển cá lên bờ, nay một số công nhân ngồi thành nhóm chờ việc.

Đứng trước văn phòng điều hành, ông Đặng Văn Quới, Trưởng Ban Quản lý Cảng cá Tắc Cậu, thỉnh thoảng lại nhìn về phía cửa sông. Theo lịch đăng ký, sáng nay có tàu cá về bốc dỡ hải sản. Nhưng kim đồng hồ đã gần chỉ 10 giờ, phía xa vẫn chưa thấy bóng con tàu được chờ đợi. “Mấy năm trước giờ này là tàu vô nối đuôi nhau, giờ có khi cả buổi chỉ được một vài chiếc”, ông Quới nói rồi lại hướng mắt ra dòng Cái Bé.
Trên chiếc tàu tải đang cập sát cầu cảng, ông Ba Phương (ở phường Rạch Giá) vừa ngồi chờ hoàn tất hồ sơ thủ tục xuất bến, vừa liên tục nghe điện thoại. Đầu dây bên kia, chủ cơ sở nước đá giục ông đưa tàu sang nhận hàng để kịp chuyến tiếp tế ngoài khơi. “Giấy tờ chưa xong thì phải đợi thôi. Mình muốn đi sớm nhưng đâu phải cứ hối là tàu chạy được”, Ba Phương càu nhàu sau khi tắt điện thoại.

Gần 70 tuổi, nước da người tài công già sạm đen bởi nắng biển. Hai bàn tay thô ráp là dấu vết của hơn nửa đời lênh đênh trên những ngư trường phía tây nam. Ngày còn khỏe, Ba Phương làm ngư phủ rồi lên tài công những chiếc tàu lưới kéo đôi công suất lớn. Mỗi chuyến biển thường kéo dài hàng tuần, có khi cả tháng. Biển cho ông kế sinh nhai nhưng cũng bắt người đi biển trả giá bằng những đêm trắng, những lần vật lộn với sóng to, gió lớn, những ngày thiếu nước ngọt, rau xanh và cả những cơn bão bất ngờ ập đến giữa khơi xa.
Tuổi cao, ông rời những chuyến khai thác dài ngày để chuyển sang chạy tàu tải. Công việc bây giờ là chở nước đá, dầu, lương thực ra tiếp tế cho tàu đánh bắt, rồi nhận hải sản đưa về bờ. “Mỗi chuyến chỉ hai, ba ngày, khỏe hơn hồi đi đánh bắt xa bờ. Tuổi mình giờ đi biển dài ngày như trước không còn đủ sức nữa”, Ba Phương tâm sự.
Rồi người tài công già nhìn sang những dãy tàu nằm dọc hai bên bờ sông Cái Bé. Nhiều chiếc neo lâu ngày, boong tàu vắng người. “Giờ tàu cũng ít đi, bạn biển cũng ít dần. Thanh niên không còn mấy ai muốn theo nghề này nữa”. Câu nói như bâng quơ của Ba Phương như chạm đúng nỗi lo đang hiện hữu trong nhiều gia đình làm nghề biển ở An Giang hiện nay.
Ông Nguyễn Văn Hùng (ở phường Rạch Giá), có 3 cặp tàu cào đôi đánh bắt xa bờ. Mỗi cặp tàu cần từ 18-20 lao động để vận hành. Nhưng hiện 1 cặp phải nằm bờ vì thiếu người, 2 cặp còn lại dù đã ra khơi vẫn thiếu khoảng 3, 4 ngư phủ mỗi cặp. “Trước đây chỉ cần gọi vài cuộc điện thoại là đủ bạn xuống tàu. Bây giờ phải kiếm trước cả tuần, mà cũng khó lòng tập hợp đủ số lượng yêu câu”, ông Hùng kể.

Người trẻ không muốn đi, còn những lao động có kinh nghiệm thì phần lớn đã lớn tuổi. Nghề biển lại không phải công việc có thể tuyển một người hôm nay, sáng mai cho xuống tàu là làm được. Một ngư phủ phải biết chịu sóng, hiểu công việc, vị trí trên tàu, phối hợp với bạn tàu và đủ sức làm việc liên tục trong môi trường khắc nghiệt. Đã có không ít người thử theo tàu ra khơi nhưng say sóng, không chịu được cảnh xa nhà hàng tuần rồi bỏ.
Theo ông Hùng, nguồn lợi thủy sản những năm gần đây suy giảm, giá bán lại không ổn định trong khi nhiên liệu, nước đá, thực phẩm và các chi phí khác đều tăng. Có chuyến tàu đi hàng tuần, trở về tính toán xong chỉ hòa vốn, thậm chí lỗ. “Đi biển cực mà cuối chuyến chia được ít tiền thì người ta bỏ thôi. Lao động cũng phải lo cho gia đình, họ thấy trên bờ có việc ổn định hơn thì họ chọn trên bờ”, ông Hùng nói.
Đó là vòng luẩn quẩn đang bủa vây nhiều chủ tàu: nguồn lợi giảm làm thu nhập giảm, thu nhập giảm khiến lao động bỏ nghề, thiếu lao động làm tàu phải nằm bờ hoặc khai thác cầm chừng, tàu hoạt động kém hiệu quả lại càng khó giữ người.
Ứng tiền vẫn khó giữ ngư phủ
Để có đủ lao động cho một chuyến biển, nhiều chủ tàu cá ở An Giang hiện phải chấp nhận một cách giữ người đầy rủi ro: Cho ngư phủ ứng trước tiền. Mức ứng phổ biến khoảng 10-15 triệu đồng/người. Một cặp tàu cần gần 20 ngư phủ, tính ra chủ tàu có khi phải bỏ ra trước hàng trăm triệu đồng chỉ để tập hợp đủ lao động, chưa kể tiền nhiên liệu, nước đá, lương thực, ngư cụ và hàng loạt chi phí cho chuyến biển.

“Không ứng thì người ta không xuống tàu. Nhưng ứng rồi cũng chưa chắc giữ được”, ông Hùng nói với giọng đầy lo lắng. Có chuyến, mọi thứ đã chuẩn bị xong. Dầu đã bơm đầy, nước đá xuống hầm, gạo, rau, thực phẩm chất đủ trên tàu. Đến giờ xuất bến, một vài ngư phủ bỗng mất liên lạc, tìm đến nhà ở cũng chẳng thấy. Nhưng để tàu nằm thêm một ngày là lại thêm chi phí nên phải chạy đôn, cháy đáo tìm người thay thế.
Chuyện ngư phủ nhận tiền ứng trước rồi “lặn” mất không phải mới xảy ra. Nhiều chủ tàu xem đây gần như một rủi ro phải chấp nhận để duy trì hoạt động. Phần lớn lao động nghề biển có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Khi xảy ra chuyện, chủ tàu cũng ít lựa chọn con đường kiện tụng bởi có tìm được người thì khả năng thu hồi tiền cũng rất thấp.

Theo Hội Nghề cá tỉnh An Giang, thiếu lao động hiện là một trong những khó khăn lớn của nghề khai thác thủy sản, bên cạnh chi phí sản xuất tăng và nguồn lợi ngày càng suy giảm. Đặc thù nghề khai thác là thu nhập của ngư phủ thường được chia sau mỗi chuyến biển. Nhưng khi biển ít cá, chi phí tăng, phần chia cho lao động giảm xuống, sức hấp dẫn của nghề cũng mất dần. Hệ quả dễ thấy nhất là ngày càng nhiều tàu phải nằm bờ hoặc hoạt động không đủ công suất.
Theo ông Trần Ngô Minh Toàn, Giám đốc Ban Quản lý Cảng cá An Giang, những gì diễn ra tại các cảng cá thời gian gần đây phản ánh khá rõ khó khăn của đội tàu. Số tàu cá về các cảng cá chỉ định ngày một ít, sản lượng thủy sản bốc dỡ cũng giảm theo. Đây không chỉ là câu chuyện của riêng cảng cá mà phản ánh những khó khăn ngày càng rõ nét của nghề khai thác, trong đó có tình trạng thiếu lao động đi biển.

Để giải quyết bài toán lao động, không thể chỉ dừng ở việc tìm thêm người xuống tàu. Điều quan trọng hơn là phải khiến nghề biển trở lại thành một sinh kế đủ sức hấp dẫn. Chủ tàu cần bảo đảm tiền công, phương thức chia sản phẩm rõ ràng, quan tâm bảo hiểm và trách nhiệm khi xảy ra tai nạn. Lao động phải được đào tạo kỹ năng nghề, an toàn trên biển, sử dụng thiết bị hàng hải và nắm chắc các quy định chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Nghề biển ở An Giang từng được truyền từ cha sang con, từ lớp tài công già sang những người bạn tàu trẻ tuổi. Nhưng dòng chảy ấy đang chậm lại. Một thế hệ từng xem biển là con đường mưu sinh giờ đang dần rời boong tàu, trong khi thế hệ kế tiếp lại không mấy mặn mà. Câu hỏi đặt ra là rồi đây ai sẽ đi biển?
Người trẻ không muốn đi, còn những lao động có kinh nghiệm thì phần lớn đã lớn tuổi. Nghề biển lại không phải công việc có thể tuyển một người hôm nay, sáng mai cho xuống tàu là làm được. Một ngư phủ phải biết chịu sóng, hiểu công việc, vị trí trên tàu, phối hợp với bạn tàu và đủ sức làm việc liên tục trong môi trường khắc nghiệt. Đã có không ít người thử theo tàu ra khơi nhưng say sóng, không chịu được cảnh xa nhà hàng tuần rồi bỏ.
(Còn nữa)
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn














