Những loại mắm nổi tiếng ở Đông Nam Á

Mắm là thực phẩm cần thiết trong chế độ ăn uống ở Caribê, Tây Phi, Bắc Phi, Đông Á, ven biển Nga, một số vùng ở Canada và Bắc Cực, đặc biệt là mắm rất phổ biến ở Đông Nam Á.

Ở Việt Nam mắm thường được làm từ cá hay thủy sản ướp muối và gia vị. Có thể ăn mắm sống sau một thời gian ướp mà không cần nấu, song cũng có thể xử lý tiếp bằng cách nấu, lọc để chế biến thành món ăn như lẩu, súp…

Mắm bò hóc (Campuchia) và mắm padaek (Lào) – trên; mắm ngapi (Myanmar) và mắm bagoóng (Philippines) – dưới

Người Việt làm mắm từ nhiều nguyên liệu khác nhau. Ví dụ: mắm ruốc (làm từ ruốc, một loài tôm nhỏ); mắm nêm (hay mắm cái, một sản phẩm lên men từ cá); mắm thái (làm từ thịt heo hay cá lóc và đu đủ xanh xắt nhuyễn); mắm cáy (làm từ cáy – một loại cua sống chủ yếu ở vùng duyên hải); mắm chua (chế biến từ quá trình lên men của tôm, cá hay tép moi, ướp thính và gia vị); mắm mực (làm từ mực tươi); mắm sò huyết; mắm cua đồng; mắm ba khía; ngoài ra còn những loại khác như mắm cá lóc, cá sặc (An Giang); mắm còng (Bến Tre); mắm ong rừng (Cà Mau); mắm nhum (Bình Định) và mắm rươi (Trà Vinh)…

Ở Campuchia có nhiều loại mắm nổi tiếng, chẳng hạn như mắm teuk trei và mắm tôm kapi, nhưng nổi tiếng nhất là mắm bò hóc (prahok), làm chủ yếu từ cá lóc và cá sặc bạc; một loại bò hóc đình đám khác cũng chế biến từ cá sặc là prahok kanthara, được cho là có nguồn gốc từ mắm của Lào.

Loại bò hóc chiên (prahok chien) thường được trộn với thịt bò hoặc heo và ớt rồi chiên hay nướng, khi ăn có thể kèm theo dưa chuột, cà tím và cơm. Loại bò hóc gói có tên là prahok gop hay prahok ang, thường được gói trong lá chuối, nướng chín bằng lửa than đá. Loại bò hóc sống là prahok chao, thường kết hợp với nước cốt chanh, sả, ớt tươi và cà tím; ăn với thịt bò. Người Khmer thích ăn sống loại bò hóc này chứ hiếm khi nấu, họ thường dùng với rau củ và trái cây.

Mắm ong rừng (Cà Mau) và mắm rươi (Trà Vinh)
Mắm thái Châu Đốc và mắm cá lóc An Giang (trên); mắm còng Bến Tre và mắm nhum Bình Định

Người Lào gọi mắm là nam pa, song có loại cô đặc hơn, thơm hơn gọi là lao bagoong hay padaek. Loại này có mùi thơm như phó mát Pháp Époisses de Bourgogne. Chúng được làm bằng cá tươi, chế biến trong nhiều món ăn, đặc biệt là món tam maak hoong (gỏi đu đủ).

Ở Myanmar có loại mắm ngapi, hiểu nghĩa đen là “cá nén”. Theo Encyclopædia Britannica, ngày xưa loại mắm này được gọi là ngapee, về sau còn gọi là nga-pee hay gnapee. Đây là cách gọi chung cho loại mắm có mùi hăng làm từ cá hoặc tôm ở Myanmar.

Cách làm khá đơn giản: ướp muối cá hoặc tôm rồi phơi khô trên mặt đất. Ngapi được sử dụng trong phần lớn các món ăn ở Hạ Miến (Lower Burma) – vùng đất Myanmar nhượng cho thực dân Anh vào giữa thế kỷ XIX. Nhìn chung, ngapi có nhiều loại khác nhau, cách phân biệt dựa trên nguyên liệu chính và vùng miền làm mắm.

Loại làm từ cá nguyên con gọi là ngapi kaung; từ cá nhỏ hoặc tôm panđan gọi là mhyin ngapi. Loại chiên hoặc nướng trong chảo không dầu, giã trong cối với ớt, tỏi gọi là ngapi daung. Ngoài ra còn những loại khác như ngapi yay, ngapi thoke, ngapi gyet hay ngapi kyeik, pè ngapi và ngapi kyaw (ngapi gyaw)…

Bình luận bài viết

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *