4 tháng đầu năm 2025 (thống kê đến giữa tháng 5), cả nước có hơn 34.000 cuộc xử lý liên quan đến hàng giả, hàng kém chất lượng. Nhưng chỉ 1.400 vụ được khởi tố hình sự. Còn lại, phần lớn bị xử lý hành chính. Những doanh nghiệp thu lợi hàng chục tỷ đồng nhờ sản phẩm kém chất lượng, gian dối về nguồn gốc, nhưng chỉ bị phạt vài chục triệu đồng.
Bài 1: Hàng giả và thị trường ngây thơ
Luật… ngoài da
Cơ sở sản xuất mỹ phẩm của Nguyễn Văn Khánh tại Bắc Giang bị phát hiện với hơn 100.000 tem chống hàng giả, hàng triệu bao bì giả. Từ cuối năm 2024 đến ngày bị phát hiện, Thắng đã bán hơn 100.000 đơn hàng qua các kênh thương mại điện tử, doanh thu hơn 6 tỷ đồng. Cơ sở bị xử lý hình sự – nhưng đây là số ít hiếm hoi.

Hay như sản phẩm Hanayuki Conditioner bị Cục Quản lý Dược đình chỉ lưu hành vì chứa thành phần không có trong hồ sơ công bố. Hình thức xử lý là rút giấy công bố, “chuyển hồ sơ sang công an nếu có dấu hiệu hình sự”. Hiện chưa có thông tin xử lý hình sự cụ thể, không đề cập phạt tiền, hay truy trách nhiệm cá nhân.
Một vụ khác, mỹ phẩm Dr Therapy Melasma trên Shopee chứa thủy ngân vượt mức cho phép và hydroquinone 2%, chất cấm trong mỹ phẩm chăm sóc da. Cơ quan chức năng chỉ yêu cầu thu hồi sản phẩm, trong khi sản phẩm đã được quảng cáo và phân phối rộng rãi.

Những vụ việc như vậy cho thấy phần nào sự hiện diện của luật pháp, nhưng vẫn còn nhẹ. Trong khi hàng giả âm thầm bào mòn sức khỏe người tiêu dùng, thì chế tài từ pháp luật vẫn chỉ tác động… ngoài da người vi phạm, không đủ sức răn đe.
Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả hiện đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật: từ Bộ luật Hình sự (Điều 192, 193) đến Luật An toàn thực phẩm, Luật Quảng cáo, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Nghị định 98/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc xử lý hàng giả trên thực tế vẫn rất hạn chế, vì nhiều điểm nghẽn trong quá trình áp dụng.
Thứ nhất, hệ thống pháp luật hiện tại quá phân tán. Mỗi hành vi vi phạm có thể liên quan đến nhiều luật khác nhau, do nhiều cơ quan khác nhau quản lý. Điều này khiến việc phối hợp liên ngành gặp khó khăn, dẫn đến tình trạng ‘cha chung không ai khóc’. Ví dụ, một sản phẩm vi phạm có thể vừa bị coi là quảng cáo sai sự thật (thuộc Bộ TT-TT), vừa vi phạm tiêu chuẩn an toàn thực phẩm (thuộc Bộ Y tế), vừa là hàng hóa lưu thông trên thị trường (thuộc Bộ Công Thương). Nhưng không có một đầu mối pháp lý rõ ràng để quy trách nhiệm xử lý.
Thứ hai, nhiều quy định vẫn dừng ở mức khuyến nghị, không có chế tài mạnh. Nhiều luật sử dụng những cụm từ như ‘khuyến khích’, ‘tăng cường’, ‘yêu cầu’, nhưng thiếu quy định bắt buộc hoặc hình phạt cụ thể nếu vi phạm.
Thứ ba, việc xử lý hình sự gặp trở ngại do các khái niệm pháp lý còn mơ hồ. Việc khởi tố gặp trở ngại vì phải chứng minh “hậu quả nghiêm trọng” – điều kiện mơ hồ nếu chưa có người bị ngộ độc hay tử vong. Điều này khiến các cơ quan tố tụng thường ngần ngại ra quyết định truy tố, và chọn giải pháp an toàn là xử lý hành chính.
Lắm mối, rối không ai gỡ
Khi một sản phẩm không phép bị phát hiện, câu hỏi lớn nhất là: ai chịu trách nhiệm xử lý?
Bộ Y tế quản lý chất lượng thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng; nhưng nếu sản phẩm chưa được cấp phép, họ từ chối thẩm quyền vì “không phải do chúng tôi duyệt hồ sơ”.
Bộ Công Thương quản lý hoạt động thương mại và chỉ đạo lực lượng Quản lý thị trường – nhưng lại gặp khó nếu sản phẩm giả bán qua livestream, nền tảng xuyên biên giới, hay không đủ công cụ truy xuất nguồn gốc.

Lực lượng Quản lý thị trường là đơn vị có chức năng quản lý, kiểm tra hàng hóa trực tiếp, nhưng lại không có năng lực kỹ thuật để giám định chất lượng, phải chờ cơ quan chuyên ngành.
Bộ Thông tin – Truyền thông chỉ kiểm soát nội dung truyền thông, nhưng không đủ cơ sở pháp lý để xử lý quảng cáo sai sự thật trên TikTok. Với một sản phẩm giả, ai cũng có liên quan, nhưng không ai đủ “công cụ” hay “căn cứ chuyên môn, thẩm quyền đầy đủ để hành động. Và vì thế, sản phẩm sai vẫn trôi nổi, còn các cơ quan chức năng vẫn còn trong vòng luẩn quẩn trách nhiệm. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn từng thẳng thắn: “Hàng giả, hàng nhái xảy ra nhưng không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính.”
Phạt một, lãi mười
Và trong khoảng trống trách nhiệm đó, lợi nhuận từ hàng giả tiếp tục tăng trưởng. Một lô mỹ phẩm giả có thể mang lại vài tỷ đồng. Nếu bị phát hiện, hình phạt thường chỉ là 30 đến 70 triệu đồng, cộng thêm tiêu hủy hàng hóa. Doanh nghiệp mất một, nhưng đã lãi mười. Thậm chí, người kinh doanh ở đâu đó còn có tâm lý: “Cứ làm đi, nếu bị bắt thì nộp phạt là xong.”
Còn người tiêu dùng, khi phát hiện sản phẩm có dấu hiệu giả cũng không biết kêu ai. Họ không có đường dây nóng, không có đầu mối cụ thể để báo cáo. Nếu gọi sai cơ quan, thì đơn bị chuyển lòng vòng. Nhiều người thậm chí còn sợ bị kiện ngược vì hành vi “bôi nhọ doanh nghiệp”. Pháp luật chưa có cơ chế rõ ràng để bảo vệ người tiêu dùng khi họ lên tiếng. Và trong nhiều trường hợp, người ta buộc phải im lặng, bởi không có một nơi nào đủ an toàn để tiếp nhận nguồn tin từ họ.
Rõ ràng, đã đến lúc hệ thống hóa các điều luật liên quan thành một đạo luật thống nhất về phòng chống hàng giả. Việc xử lý hình sự nên tính đến cả nguy cơ tiềm ẩn, không đợi đến khi có người ngộ độc, bị tổn hại, mới ra tay. Mức phạt hành chính cũng cần được điều chỉnh theo giá trị gian lận thực tế, không thể để doanh nghiệp thu về hàng chục tỷ mà chỉ bị phạt vài chục triệu đồng. Và quan trọng nhất, cần xác lập rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành theo từng loại sản phẩm, để không còn chuyện thoái thác.
Pháp luật là để bảo vệ con người. Chừng nào pháp luật vẫn không đủ sức răn đe, không rõ ràng trách nhiệm, không bảo vệ người tố cáo – thì hàng giả sẽ còn đất sống. Chúng ta có thể tổ chức thêm nhiều hội thảo, chiến dịch, tuyên truyền. Nhưng nếu luật vẫn nhẹ, nếu trách nhiệm vẫn mù mờ – thì cuộc chiến chống hàng giả sẽ không sờ được đến gốc.
Thiên Di
Tạp chí Nông thôn Việt















