“Hàng giả” có lẽ là từ khóa phổ biến nhất trong những ngày qua. Search “hàng giả” trên Google, có hơn 249.000.000 kết quả chỉ trong vòng 0,26 giây. Tìm kiếm nội dung trong vòng 1 tháng, có hơn 20.000.000 kết quả. Tức là chỉ trong 30 ngày qua đã xuất hiện thêm 20 triệu bài vở/nội dung/tin tức chứa từ khóa “hàng giả”. Chưa bao giờ người Việt lại chứng kiến một cuộc truy quét hàng giả mạnh mẽ đến thế.
Khái niệm ‘hàng giả’ của người Việt
Thế nhưng, người Việt không lạ với hàng giả. Tháng 1/2025, trong báo cáo “Notorious Markets List”, Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã chính thức nêu tên Việt Nam là một trong những điểm nóng về tiêu thụ và phân phối hàng giả. Chúng ta đã sống chung với hàng giả và xem đó là một thị trường đương nhiên, đến mức, khi các nhãn hàng quen thuộc bị phanh phui với định danh là “hàng giả”, người ta ngỡ ngàng bảo nhau: “vậy cũng là hàng giả à”?
Sự việc đình đám đầu tiên phải kể đến sản phẩm kẹo rau củ Kera. Khi thấy kết quả làm việc của cơ quan chức năng có kết luận hoa hậu Thùy Tiên, Vlogger Quang Linh và Vlogger Hằng Du Mục vi phạm liên quan đến “hàng giả”, công chúng thắc mắc: đó là sản phẩm họ làm ra, thương hiệu của họ, thì sao gọi là hàng giả?

Tức là, theo kiến thức phổ thông, hàng giả chỉ có nghĩa là “giả mạo nhãn hiệu”.
Thực tế, khái niệm “hàng giả” trong luật pháp còn bao gồm cả hành vi gian dối về chất lượng, công dụng, thành phần, nguồn gốc sản phẩm.
Sản phẩm Kera được quảng cáo là “kẹo rau củ”, “kẹo giảm cân từ thiên nhiên”, “an toàn cho trẻ em, phụ nữ cho con bú”… nhưng thực tế không có đủ chứng cứ khoa học hay giấy phép công bố phù hợp để chứng minh những tuyên bố đó.
Một số lô hàng còn không có số đăng ký lưu hành, hoặc có công thức sai lệch so với hồ sơ đã công bố, tức là bán ra thị trường một sản phẩm khác với thứ đã được duyệt.
Vậy, dù sản phẩm do chính họ đặt làm và đứng tên thương hiệu, nhưng nếu ghi nhãn mác sai lệch bản chất thực tế, công bố công dụng không đúng với thành phần thật, hoặc lưu hành sản phẩm không đúng với hồ sơ đăng ký, thì đó vẫn bị coi là hàng giả.
Qua vụ kẹo Kera, người tiêu dùng như được “mở mắt” về thật – giả trong đánh giá hàng hóa. Nhưng sự mù mờ trước đây cũng có gốc rễ sâu xa. Hệ thống giáo dục tiêu dùng yếu, quảng cáo dễ dãi, và việc phê duyệt sản phẩm dựa trên hồ sơ khiến người dùng tin tưởng vào những cái gọi là “công bố chất lượng” mà không đủ khả năng kiểm chứng thực tế. Tất cả mặc định rằng sản phẩm đã được “bảo chứng” khi được cấp phép.
Những diễn biến buồn… cười
Từ sau vụ kẹo Kera, hàng loạt vụ kiểm tra, thu hồi sản phẩm “hàng giả” diễn ra liên tục. Trong đó, nổi bật là hai vụ việc lớn: tại Bắc Giang, Nguyễn Văn Khánh bị bắt khi điều hành xưởng mỹ phẩm giả với hơn 100.000 tem chống hàng giả, hàng triệu bao bì và doanh thu hơn 6 tỷ đồng. Tại Hà Nội, Phạm Ngọc Tiến cùng vợ núp bóng 17 công ty để phân phối hơn 100 tấn thực phẩm chức năng giả.
Rồi những ngôi chợ nổi tiếng TP.HCM đồng loạt đóng cửa khi có đoàn kiểm tra như Chợ Tân Bình, hay cả Sài Gòn Square. Những KOLs, những “chiến thần livestream” bị kiểm tra và xử phạt như Đoàn Di Băng, Ngân Collagen, Phan Thủy Tiên… cùng các sản phẩm từng được người tiêu dùng mua bằng niềm tin với chính những người đang bị “réo tên”.
Giữa những cấp tập thông tin về phanh phui, bắt bớ người làm hàng giả, thì có 3 công ty dược phẩm tự thu hồi giấy phép. Trong đó, công ty Bayer Việt Nam chi nhánh của tập đoàn dược phẩm đa quốc gia Bayer – thu hồi hiệu lực giấy công bố đối với sản phẩm Berocca Performance Mango. Đây là sản phẩm được quảng cáo bổ sung vitamin, khoáng chất cho cơ thể.

Công ty TNHH Thương mại Quốc tế Á Mỹ (quận Cầu Giấy, Hà Nội) thu hồi hiệu lực giấy công bố với sản phẩm Siro Ăn Ngon – một sản phẩm dành cho trẻ em.
Đặc biệt, Công ty cổ phần Dược phẩm Trumpharmaco thu hồi hiệu lực giấy công bố của 10 sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe.
Hành động “tự giác” lại gây cười. Trong bối cảnh thị trường đang nóng rực với các đợt kiểm tra đột xuất, thu hồi sản phẩm, khởi tố, bắt giữ… việc tự thu hồi khiến dư luận cho rằng đây không hẳn là hành động có trách nhiệm vì sức khỏe cộng đồng, mà có thể là cách “đi trước một bước” để giảm nhẹ hậu quả.
Cuộc ‘trưởng thành đớn đau’
Người ta có thể hả hê khi những người nổi tiếng bị xử phạt vì hàng giả, có thể “buồn cười” khi những công ty “tai to mặt bự” phải rón rén tự thu hồi giấy công bố sản phẩm. Họ cũng có thể ngao ngán trước những lô dược phẩm bị lén lút đem đổ đống. Nhưng trong mọi sự ngao ngán, buồn cười, hả hê đó… có cái xót xa cho một thị trường trăm triệu dân đã phải dùng đồng tiền mồ hôi nước mắt thật để mua lấy hàng giả mà dùng như một lẽ đương nhiên.
Khi nhìn đống dược phẩm đem đổ bỏ, nhiều người chụp lại thương hiệu của một loại siro ăn ngon, siro tăng trưởng và thú nhận là họ đã mua nó cho con dùng hàng năm trời, vì… thằng bé nhỏ con.

Khi người tiêu dùng thú nhận họ đã mua/dùng sản phẩm nào đó đang bị “lên sóng”, đó như một lời thú tội vì đã vô tình tiếp tay, đưa hàng giả vào sức khỏe của chính con cái, ba mẹ hay một người thân yếu ớt. Và thực tế, khi thị trường hàng giả hoạt động ổn định hàng thập niên, đã có sự tiếp tay vô thức của người tiêu dùng, và cả… vô trách nhiệm của các nhà chức trách. Thậm chí, thị trường ấy đã sinh ra những nhà sản xuất hồn nhiên, cứ làm ra sản phẩm rồi bán, mà không xem đó là một hành vi vi phạm pháp luật.
Trong nhiều năm, chính cơ chế quản lý đã hành xử như thể hàng giả là chuyện bên lề, không gây hậu quả nghiêm trọng. Sản phẩm được cấp phép lưu hành đôi khi chỉ dựa trên hồ sơ, trong khi việc hậu kiểm – tức giám sát chất lượng thực tế sau khi sản phẩm đã lên kệ thì chỉ như… tượng trưng.
Ngành dược từng thừa nhận thiếu nhân lực để kiểm tra, ngành quản lý thị trường từng nói thiếu công cụ để xử phạt kịp thời. Trong khi đó, hàng giả vẫn bày bán, livestream, vận chuyển công khai. Còn người tiêu dùng, cái “ngây thơ” lớn nhất có lẽ là niềm tin rằng hệ thống pháp luật hiện hành đã đủ để bảo vệ họ. Thực tế, không ít sản phẩm giả chỉ bị phát hiện nhờ… lùm xùm mạng xã hội.

Thị trường bây giờ đã không còn chỗ cho sự ngây thơ. Người tiêu dùng bắt đầu học lại từ đầu: học cách đọc nhãn, học cách nghi ngờ, và học cả cách tự bảo vệ mình. Họ quay sang những “sản phẩm quốc dân”, những chiến thần livestream, những “người bạn tiêu dùng” đã tin tưởng trước nay bằng cái nhìn cảnh giác. Đó có lẽ không chỉ là phản ứng nhất thời, mà còn là sự “trưởng thành” tất yếu của người tiêu dùng, sau cuộc “hiện hình” rầm rộ và quyết liệt làm đúng việc – của các cơ quan chức năng.
Thiên Di
Tạp chí Nông thôn Việt















