Bài 16. Độc đáo Lễ hội Cầu ngư ở Quảng Trị

Hằng năm, cứ vào dịp tháng Giêng, tháng Hai, nhiều địa phương ven biển của tỉnh Quảng Trị lại tổ chức lễ cầu ngư. Lễ hội đã trở thành hoạt động sinh hoạt văn hóa, tâm linh không thể thiếu của người dân vùng biển trước những chuyến ra khơi đầu năm mới.

Bài 1. Về Quảng Ninh xem Lễ hội Cầu Ngư ở Quảng Yên

Bài 2. Về Sóc Trăng đi Lễ hội Phước Biển 300 năm của đồng bào Khmer

Bài 3. Độc đáo lễ hội cầu ngư – rước cá sủ vàng ở Hải Phòng

Bài 4. Lễ tưởng niệm 64 liệt sĩ Gạc Ma

Bài 5. Độc đáo lễ hội cầu ngư làng Hưng Long, Thái Bình

Bài 6. Lễ hội cầu ngư Nhượng Bạn thu hút du khách về Hà Tĩnh

Bài 7. Lễ hội Cầu ngư đậm nét văn hóa miền biển xứ Thanh

Bài 8. Những lễ hội Cầu ngư ở Nghệ An

Bài 9. Độc đáo Lễ hội Cầu ngư tại làng chài gần 400 năm ở Quảng Bình

Bài 10. Về Đà Nẵng trải nghiệm Lễ hội Cầu ngư Thanh Khê

Bài 11. Chiêm ngưỡng Lễ hội Cầu ngư lớn nhất Cố đô Huế

Bài 12. Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý ở Bình Định

Bài 12. Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý ở Bình Định

Bài 13. Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa: Bằng chứng khẳng định chủ quyền Việt Nam

Bài 14. Chôl Chnăm Thmây – Lễ hội mừng năm mới của người Khmer

Bài 15. Lễ hội Cầu ngư ở Quảng Nam

Ở Quảng Trị, lễ hội này vẫn còn tồn tại khá đậm nét ở các làng Bình An (xã Triệu Vân); làng Cang Gián, làng Cát Sơn, làng Hà Lợi Trung (xã Trung Giang); làng Thái Lai (xã Vĩnh Thái); làng Xuân Khánh, làng Bách Lộc (xã Gio Việt); làng Bách Lộc (xã Trung Hải); làng Hà Lợi Thượng (xã Gio Hải); làng Mỹ Thuỷ (xã Hải An); làng Phú Hội (xã Triệu An); làng Thâm Khê, làng Trung An (xã Hải Khê); làng An Hội, làng Ba Lăng (xã Triệu Lăng); làng Vịnh Mốc (xã Vĩnh Thạch),…

Lễ hội cầu ngư ở thôn Mỹ Thủy (xã Hải An, huyện Hải Lăng). Ảnh: H.A.

 

Lễ hội Cầu ngư là một nghi lễ quan trọng của toàn thể dân làng, nghi lễ này được diễn ra hàng năm và không thống nhất về mặt thời gian (có nơi tổ chức vào Rằm tháng Giêng như làng Thâm Khê, làng Trung An, có nơi lại tổ chức vào tháng Hai âm lịch như làng Bình An, xã Triệu Vân, làng Phú Hội, cũng có nơi tổ chức vào tháng Sáu âm lịch như làng An Hội). Mặc dù có khác nhau về thời gian tổ chức, nhưng nhìn chung lễ hội thường gồm 2 phần: phần lễ và phần hội và tồn tại từ xưa cho đến tận ngày nay.

Phần lễ

Nghi thức đầu tiên là Lễ cáo giang sơn: Từ tờ mờ sáng ngày 15 tháng giêng (trong những năm gần đây thời gian cúng tế được người dân trong làng chuyển sang gần buổi trưa), khi công việc chuẩn bị cho lễ hội đã hoàn tất, những già làng đã tề tựu đông đủ tại nền âm hồn để chỉ bảo cho con cháu soạn lễ cúng tế. Bên cạnh đó, thanh niên trai tráng mang các loại lễ vật được chuẩn bị sẵn đưa ra bày biện tại đàn. Khi lễ vật được bày lên, cũng là lúc lễ cúng cầu ngư được bắt đầu. Hương án hướng ra mặt biển nghi ngút khói trầm hương. Hội chủ làng và các vị trưởng tộc là những người được cử đứng lễ khấn nguyện thần biển. Sau lễ cáo giang sơn, Ban tế lễ đến làm lễ nghinh rước bài vị Thành hoàng, thần Bổn thổ từ các miếu về an vị tại đàn tế.

Lễ hội cầu ngư ở làng Vịnh Mốc.
Hội chủ làng thực hiện nghi thức rước thần biển về an vị tại miếu làng Trung An (Ảnh Ngọc Thiệp)

Tiếp đến là Lễ rước Ngư ông lên an vị tại miếu. Miếu ngư ông nằm ở vị trí cách nền âm hồn khoảng 200m về phía tây. Chủ tế đứng trước biển, cầm nén nhang khấn mời ngư ông lên an vị tại miếu ngư ông để dự lễ với dân làng.

Lễ nghinh rước thần biển nhằm mời thần biển và những người trong làng bị chết biển lên dự lễ.

Lễ đưa hoa quả để cúng cho các cô hồn thập phương không có nơi nương tựa đến phối hưởng. Lễ vật bao gồm các loại như chuối, hoa quả, cau trầu, rượu, giấy áo, gạo muối… tất cả được đặt trên 2 bàn đặt ở ngoài hiên hướng ra biển. Sau khi tàn nén nhang, tống tiễn những điều xấu cùng những linh hồn không nơi nương tựa này đi nơi khác và để lại những điều may mắn cho dân làng.

Lễ cáo tại miếu Ngư Ông làng Trung An (Ảnh Ngọc Thiệp)

Lễ tiến cúng tại miếu âm hồn là nghi lễ quan trọng nhất. Chủ tế đọc bài văn khấn có nội dung cầu may mắn, hạnh phúc, cầu quốc thái dân an đến với mọi người, mọi nhà; cầu mong các vị thần che chở, giúp dỡ, phù hộ cho dân làng khi ra khơi đánh cá tránh được những tai ương, giận dữ của biển cả, được mùa tôm cá đầy thuyền… với sự hỗ trợ của ban bồi tế, đội nhạc cổ và sự chứng kiến của toàn bộ dân làng.

Lễ vật trong buổi tế tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế từng năm mà chuẩn bị lớn hay bé nhưng thường phải có cỗ “tam sanh”; năm lớn thì mổ bò cùng với heo, gà; năm bé thì thay bò bằng dê và các thứ trầm, trà, hoa, quả, hương đèn, cau trầu, rượu, giấy áo… Kết thúc buổi lễ là nghi thức rước bài vị các vị thần về an vị tại trú sở của họ. Lúc nay lễ hội Cầu Ngư mới kết thúc trong sự hân hoan, vui vẻ của mọi người dân.

Những lễ nghi đặc trưng nói trên đều được giữ gìn nguyên vẹn từ hàng trăm năm qua.

Phần hội

Bên cạnh phần lễ được tổ chức một cách trang trọng, thiêng liêng với những nghi thức tâm linh, là phần hồn của lễ Cầu ngư, thì phần hội là phần không thể thiếu và được tổ chức một cách chặt chẽ, chu đáo với trò chơi tiêu biểu là đấu vật nhằm góp phần tạo không khí lễ hội thêm vui tươi, náo nhiệt. Đây là thời gian mà toàn thể dân làng được vui chơi, nghĩ ngơi, giải trí để xoá tan những lo âu, vất vả trong cuộc sống mưu sinh, chuẩn bị một vụ đánh bắt mới đầy hứa hẹn. Trò chơi trong lễ hội cũng phần nào thắt chặt thêm tình đoàn kết, động viên mọi người rèn luyện tài năng, sáng tạo trong lao động sản xuất.

Ngày xưa, phần hội thường bao gồm các trò chơi dân gian như: đua truyền, gánh cát, đánh đu, xâu kim, đấu vật… Tuy nhiên, hiện nay một số trò chơi đã bị mai một, trong phần hội chỉ có hội vật là vẫn được tổ chức đều đặn hàng năm.

Phần thi đan lưới được làng Vịnh Mốc tổ chức trong Lễ hội Cầu ngư.
Đấu vật trong Lễ hội Cầu ngư làng Thâm Khê

Nguyên Khải

Tổng hợp

Kỳ sau: Bài 14. Lễ hội Cầu ngư ở Quảng Nam

Bình luận bài viết

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

left-banner
right-banner