Ở thôn Bến Hến, xã Đức Minh (trước đây thuộc xã Sơn Trường, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), suốt hơn 300 năm qua, người dân vẫn bền bỉ cào, đãi, luộc từng mẻ hến trên dòng sông La, giữ nghề truyền thống đã nuôi sống bao thế hệ bằng chính mồ hôi và sự nhẫn nại.
Dưới lớp bùn sâu là kế sinh nhai
Khi trời chưa kịp sáng, mặt sông La lặng như tấm gương mờ trong sương sớm, những chiếc thuyền gỗ và thuyền máy ở Bến Hến đã lần lượt rời bến, lặng lẽ rẽ nước đến những khúc sông quen thuộc, nơi lớp bùn đáy sông ẩn chứa sản vật gắn bó với đời sống người dân suốt ba thế kỷ.

Đàn ông trong làng đảm nhận việc cào hến, công việc đòi hỏi sức khỏe, sự dẻo dai và kinh nghiệm chọn con nước. Họ thả cào sắt xuống đáy, kéo từng đường nặng tay qua lớp bùn dày, có khi làm liên tục nhiều giờ giữa dòng nước lạnh để đổi lại khoang thuyền đầy hến khi mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng tre.
Ông Trần Văn Hợi, hơn 40 năm gắn bó với bãi hến cho biết, nghề này không chỉ tốn sức mà còn phụ thuộc hoàn toàn vào dòng nước. Có những ngày nước thay đổi thất thường, hến thưa dần, làm quần quật cả buổi nhưng sản lượng chỉ bằng một nửa trước đây; trong khi giá cả lên xuống khiến người làm nghề luôn thấp thỏm. “Đứng dưới nước lâu vai lưng đau nhức, gặp hôm sóng mạnh phải bám mạn thuyền mới khỏi ngã, nhưng nghỉ thì không đành, vì cả gia đình tôi sống nhờ những nhát cào dưới đáy sông này”, ông Hợi nói.

Khi thuyền cập bờ, phụ nữ chờ sẵn bên bến, đổ hến vào thúng tre, ngâm dưới sông cho nhả sạch cặn rồi chuyển vào các lán luộc dựng dọc bờ sông dài khoảng 400m. Gần 80 hộ dân được quy hoạch sản xuất tại đây, mỗi lán rộng 3-5m², có bếp xây, nồi gang lớn, giàn củi và những chiếc rổ, rá, mẹt tre sẫm màu khói.
Luộc hến không đơn thuần là đun sôi nước mà là kinh nghiệm truyền qua nhiều thế hệ. Mỗi mẻ 10-15kg hến chỉ đổ hai đến ba gáo nước sạch, giữ lửa đều khoảng 20 phút, liên tục đảo tay để hến mở miệng, tách ruột, nếu lửa yếu hoặc nước quá nhiều, hến sẽ không giữ được độ ngọt.

Nước luộc được chắt riêng. Ruột hến đổ ra thúng, đem xuống bến đãi lại trong dòng nước, nơi đôi tay người phụ nữ khuấy mạnh, tách vỏ, nhặt sạn trước khi cân bán. Công việc lặp lại mỗi ngày, kéo dài từ sáng đến quá trưa, nhưng giữa khói bếp và hơi nước vẫn rộn tiếng nói cười.
Hơn 20 năm đãi hến, chị Nguyễn Thị Lành chia sẻ, có những buổi lội dưới nước lạnh hàng giờ, tay tê cứng, lưng đau đến tối không đứng thẳng được, trong khi nguồn hến ngày càng ít, người làm đông mà bãi sông không rộng thêm. “Cực thì có cực, nhưng đây là nghề cha mẹ để lại, còn sức là tôi còn làm, vì mỗi mẻ hến không chỉ là tiền chợ mà là công sức của cả gia đình”, chị nói.

Mỗi ngày, một thuyền có thể cào được vài tạ hến sống, 100kg hến đãi được khoảng 10kg ruột, bán từ 40.000 đến 150.000 đồng/kg tùy loại và thời điểm. Mỗi hộ thu lãi từ 500.000 đồng đến hơn một triệu đồng/ngày, đủ trang trải cuộc sống, lo cho con cái học hành, sửa sang nhà cửa.
Ở Bến Hến, không thứ gì bị bỏ đi: vỏ hến được nung làm vôi bón ruộng hoặc nghiền làm thức ăn chăn nuôi, nước hến dùng nấu canh, cháo, xào. Mỗi mẻ hến là sự tận dụng tối đa từ công sức lao động.
Giữ lửa nghề qua bao biến động
Theo các bậc cao niên, nghề cào hến xuất hiện hơn 300 năm trước, khi cư dân ven sông La dùng cào tre tìm sản vật dưới lớp bùn, từ đó con hến trở thành nguồn sống chính của cả cộng đồng.
Có thời điểm gần như cả thôn theo nghề, bến nước đỏ lửa từ sáng đến chiều, nay còn gần 80 hộ làm thường xuyên, nhịp lao động vẫn đều đặn quanh năm, trừ những tháng lũ lớn khi nước dâng cao, thuyền không thể ra khơi, lán nấu bị ngập.

Nghề hến chưa bao giờ nhẹ nhàng: đàn ông kéo cào nặng trĩu bùn cát, phụ nữ ngâm mình dưới nước đãi hến, chân tay rã rời sau mỗi buổi làm việc. Thế nhưng điều giữ họ ở lại không chỉ là thu nhập, mà còn là sự gắn bó với bãi sông từ thuở nhỏ, nơi mỗi nhát cào là một phần ký ức, mỗi buổi ra sông là một thói quen đã thành nếp.
Những năm gần đây, sau khi kè chống sạt lở sông Ngàn Phố hoàn thành, khu chế biến được sắp xếp gọn gàng, an toàn hơn, các hộ được phân lô sản xuất, hỗ trợ vốn đóng thuyền, sắm máy móc, góp phần nâng cao năng suất và giảm bớt nhọc nhằn.

Ông Lê Đình Tài, Phó Chủ tịch UBND xã Đức Minh cho biết, địa phương xác định duy trì nghề truyền thống không chỉ để giữ sinh kế mà còn bảo tồn giá trị lâu đời của cộng đồng, bởi hơn ba thế kỷ qua, hến sông La đã gắn chặt với đời sống người dân nơi đây.
Từ bữa cơm gia đình đến những chuyến hàng đi xa, hến sông La vẫn giữ vị ngọt đậm, không hôi bùn, được nhiều nơi ưa chuộng. Nhưng với người Bến Hến, điều đáng quý không chỉ ở giá bán hay sản lượng, mà ở việc mỗi sáng còn mái chèo rời bến, mỗi trưa còn khói bếp bay lên dọc bờ sông.

Chiều xuống, mặt sông ánh vàng nhạt, những thúng hến đãi xong xếp ngay ngắn chờ cân bán, trẻ con chạy dọc bến nước, người lớn thu dọn củi lửa cho ngày hôm sau. Nhịp sống ấy diễn ra đều đặn qua năm tháng, lặng lẽ nhưng bền bỉ.
Báo Đại Đoàn Kết















