Chung tay phá bỏ rào cản histamine! Phần 1.

Tại sao ngưỡng histamine lại là 400 ppm?

(VATFI.org.vn) – Được coi là sản phẩm quốc hồn quốc túy của Việt Nam, được các chuyên gia ẩm thực thế giới đánh giá là một loại gia vị và thức chấm tuyệt vời, nhưng nước mắm truyền thống vẫn gặp khó khăn trong việc xuất khẩu ra thị trường thế giới bởi một rào cản kỹ thuật cực kỳ phi lý là chỉ tiêu histamine không vượt quá 400 ppm/lít. Ban biên tập web của Hiệp hội Nước mắm truyền thống Việt Nam sẽ có loạt bài viết về vấn đề này để rộng đường dư luận (trong bài có tham khảo thông tin trên internet).

 Histamin là gì?

Theo Cục An toàn thực phẩm Bộ Y tế, histamine là một acid amin sinh học, công thức hóa học là C5H9N3. Nó có tính hút nước, chịu được nhiệt cao mà không bị phá hủy trong hệ miễn dịch cục bộ cũng như việc duy trì chức năng sinh lý của ruột và hoạt động như một chất dẫn truyền thần kinh.

Histamine trong cơ thể được tìm thấy ở các hạt trong tế bào bạch cầu mast hoặc bạch cầu ái kiềm (tập trung nhiều ở mũi, miệng, chân; bề mặt nội mô cơ thể, và thành mạch máu). Thông thường, nó ở dạng dự trữ, không hoạt động. Còn khi nó bị kích hoạt, tức là cơ thể bị ngộ độc histamine do ăn phải các loại cá kém tươi có cơ thịt màu đỏ thuộc họ cá Scombroid, như cá ngừ, cá thu, cá nục, cá trích… sẽ thường thấy xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như: 1) Mặt thường đỏ, mắt đỏ. Khó thở do phù nề và co thắt khí quản; 2) Nổi mẩn đỏ, ngứa, có thể phát ban ngoài da; 3) Cảm giác nóng ran trong miệng, tăng tiết nước bọt, kích thích tiết dịch vị của dạ dày, gây buồn nôn, nôn, tiêu chảy; 4) Mạch nhanh, hạ huyết áp do giãn mạch; 5) Ảnh hưởng trực tiếp lên hệ thần kinh, gây ra biểu hiện nôn nao, chóng mặt, đau đầu…

Trong tự nhiên, histamine được tạo thành từ kết quả của sự chuyển hóa từ histidine thành histamine bởi chất xúc tác là enzyme histidine decarboxylase. Ngộ độc thực phẩm do ăn thức ăn chế biến từ cá chứa histamine cao xảy ra ở rất nhiều nước và được phát hiện đầu tiên ở cá ngừ, cá nục, cá thu… Nguyên nhân ngộ độc thực phẩm do sự chuyển hóa từ histidine thành histamine trong cá ở giai đoạn bảo quản sau thu hoạch.

Tại sao lại là 400 ppm?

Theo những người làm việc trong ngành thủy sản, việc soạn thảo tiêu chuẩn Codex 302-2011 về nước mắm trong những năm 2005-2006 được giao cho Ủy ban Codex Việt Nam và Ủy ban Codex Thái Lan vì trên thế giới chủ yếu chỉ có 2 quốc gia này sản xuất và xuất khẩu nước mắm. Thái Lan chủ yếu đưa ra thị trường nước mắm công nghiệp, chỉ có 24 độ đạm, nên hàm lượng histamine trong sản phẩm rất thấp. Hơn nữa, có lẽ họ sử dụng công nghệ enzime trong chế biến nên tạo ra loại nước mắm có màu nhạt và mùi nhẹ (giống như dịch đạm thủy phân). Và số liệu của họ đưa ra được lấy từ kết quả phân tích loại nước mắm thấp đạm này. Trong khi đó, sản phẩm nước mắm của Việt Nam rất đa dạng, từ 10-40 độ đạm, thậm chí bằng phương pháp chưng cất và cô đặc có thể tạo ra loại nước mắm tới 60 độ đạm.

“Quy định của Codex là hàng rào kỹ thuật làm nước mắm truyền thống ở Việt Nam không thể xuất khẩu được vì nước mắm truyền thống luôn có hàm lượng histamine ở mức cao, từ 700mg-1.200mg/lít. Chỉ tiêu về histamine thấp chỉ có nước mắm công nghiệp là nước mắm pha loãng mới đáp ứng được” – ông Lê Trần Phú Đức, CT HĐQT kiêm TGĐ Công ty CP Nước mắm Phan Thiết.

Và khi soạn thảo báo cáo trình lên Ủy ban Codex quốc tế, mọi số liệu đều do phía Thái Lan chuẩn bị và phía Việt Nam gần như không đấu tranh quyết liệt để bảo vệ lợi ích cho ngành sản xuất nước mắm của nước nhà. Xin mở ngoặc là mặc dù nước mắm Phú Quốc đã được cấp chỉ dẫn bảo hộ địa lý từ năm 2001 nhưng trước đó từ lâu và cho đến tận bây giờ tên gọi ‘Phu Quoc’ (viết không dấu) vẫn được in trên bao bì các loại nước mắm do Thái Lan sản xuất và xuất khẩu. Về vấn đề này, năm 2003, người phụ trách Cục Sở hữu trí tuệ của Thái Lan đã từng trả lời: “Nếu nước mắm Phú Quốc chỉ mới đăng ký ở Việt Nam mà chưa đăng ký ở Thái thì không thể nói các nhà sản xuất nước mắm của Thái dán nhãn “Phu Quoc” là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ!”.

Riêng Ủy ban Codex Việt Nam lúc đó vẫn chấp nhận mức chỉ tiêu vô lý này vì nhiều nguyên nhân và lý do. Một phần lý do chấp nhận histamine ở mức 400 ppm vì là mức này cao gấp 4 lần ngưỡng histamine được các nước tiên tiến chấp nhận đối với cá ăn nên đây được xem là một sự thành công. Những người tham gia cũng không quyết liệt đấu tranh vì cho rằng, Việt Nam chủ yếu sản xuất nước mắm để tiêu thụ nội địa, lượng xuất khẩu không đáng kể. Hơn nữa, nếu sản xuất nước mắm để xuất khẩu nữa thì lấy đâu ra lắm cá để làm nguyên liệu!?

DNK

Đón xem phần 2: Ăn bao nhiêu nước mắm có thể bị ngộ độc histamine?

Một bình luận về “Chung tay phá bỏ rào cản histamine! Phần 1.

  1. Nguyễn Dũng bình luận:

    Nếu đã viết ở mức này thì nên liệt kê những người có trách nhiệm trong việc cùng tham gia soạn thảo và trình dự thảo Codex Stan năm 2011, chẳng hạn như những người có trách nhiệm về vấn đề này của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, của Uỷ ban Codex Việt Nam và Trưởng đoàn Codex Việt Nam tham gia kỳ họp thông qua Codex Stan 302:2011, cũng như tại các lần soát xét tiêu chuẩn này các năm 2012, 2013 và 2018.

  2. Bùi Thế Tuân bình luận:

    Mình đang sản xuất nước mắm truyền thống theo quy trình hoàn toàn tự nhiên, hữu cơ. Do đó, chất Histamine trong nước mắm truyền thống dù hàm lượng có thế nào cũng không phải là chất gây hại, hoặc ngộ độc. Nếu có tác dụng khác thì cơ thể con người sẽ có thích ứng, điều chỉnh để tự cân bằng (do được tiếp xúc, sử dụng từ khi còn trong bụng mẹ)

Bình luận bài viết

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

left-banner
right-banner